Tìm kiếm

LỜI DẪN

            

   Các anh chị em thân mến

 Với lòng lưu luyến tuổi học sinh thời niên thiếu, chúng tôi, nhóm chủ trương trang Tống Phước Hiệp71.com đã thành lập trang web này để mong làm sống lại những kỷ niệm thật dễ thương dưới mái trường thân yêu ở Vĩnh Long ngày nào, và cùng chia sẻ với nhau những buồn vui trong cuỗc sống hàng ngày nhiều bận rộn.

 Trang web không nhằm mục đích kinh doanh nên các thông tin hình ảnh, tư liệu từ trang này chúng tôi không giữ bản quyền, các bạn được quyền sử dụng thoải mái, nếu được xin ghi trích dẫn từ nơi này để các bạn của mình biết thêm ở trường có một nơi thông tin dễ thương.
 Mục “tin nhà” sẽ là cột tin chính đăng tải những hình ảnh, tin tức hoạt động vui chơi của các lớp, các niên khoá để tất cả mọi cựu học sinh đều biết
 Mục “chia sẻ thông tin” sẽ đăng lại những bài báo, biên khảo, cảm nghỉ của các cựu học sinh cho các bạn biết thêm về mình.
Còn nhiều mục nữa mà chúng tôi muốn mở , nhưng vì trình độ kỹ thuật còn non kém, sẽ từng bước thực hiện cho trang web được hoàn chỉnh.
Tất cả chuyên mục, chúng tôi sẽ trình bày một cách vui tươi, không cao đạo, vì cuộc sống hàng ngày bận rộn, cần có giây phút thư giản.
 Chúng tôi mong được các bậc đàn anh, các em từng sống dưới mái trường đóng góp, chia sẻ để trang tin này được phong phú hơn, có ý nghĩa hơn.
  Xin chân thành cám ơn các bạn vừa qua đã đóng góp ý kiến, tài chính cho trang tongphuochiep71.com được hình thành.

           Đại diện nhóm thực hiện
             Trương Tường Minh

 

 

 

 

 

Hỗ trợ trực tuyến
Thống kê
Số người online
0000037
Số lượt truy cập
18589920
SỐ PHẬN KỲ LẠ CỦA BÀI HỒ TRƯỜNG
Ngày đăng: 2012-06-09 11:28:57

 

Bài Hồ Trường được người Việt Nam biết đến khi đăng trên báo Nam Phong của Phạm Quỳnh qua thiên ký sự bằng quốc ngữ tựa đề là “Hạn mạn du ký “ từ số 38 đến số 43, tháng 8 đến tháng 11 năm 1921. Trước đó, khi nhận làm chủ bút phần Hán văn báo Nam Phong khoảng năm 1919, Nguyễn bá Trác đã cho đăng “Hạn mạn du ký” bằng Hán văn từ số 22, về sau ông mới dịch ra Việt văn, rồi Đông Kinh ấn quán ở Hà Nội in thành sách.
 Bài ca hay bài thơ ? Bản Việt văn của Nguyễn bá Trác viết là bài hát. Học giả Phạm thế Ngữ trong “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên “ viết là bài ca. Các tác phẩm biên khảo thơ ca về sau nếu có nhắc đến hoặc được ngâm nga khi trà dư tửu hậu thì hay gọi là bài thơ. Vậy  Hồ Trường thực chất là bài gì ?
      Ai là tác giả ? Có nhiều nhà nghiên cứu viết tác giả là Nguyễn bá Trác (Quách Tấn.- Nguyễn tường  Phượng.- An.Chi.- ngay cả Lãng Nhân Phùng tất Đắc khi viết quyển CHƠI CHỮ tuy nói bóng gió mà ai cũng biết cụ muốn ám chỉ là Nguyễn bá Trác). Cụ Phạm thế Ngữ viết là do một người bạn của Nguyễn bá Trác thường nghêu ngao hát những lúc tiêu sầu nơi lữ điếm ( không xác nhận ai là tác giả ). Nhưng không khuynh hướng nào có dẫn chứng ! Vậy ai thực là tác giả ?
        Hạn mạn du ký là tác phẩm như thế nào ? Đây là một thiên ký sự du lịch – mà trong bản Việt văn tác giả hay viết là “lịch du”. Gồm 14 chương. Tác giả là một nhà nho học Việt Nam, ham học hỏi, bởi tình hình chính trị nhiều biến động ở Trung Kỳ trong giai đoạn từ năm 1905 về sau, đang ở Hà Nội bị gọi về quê, sợ Pháp bắt phải trốn ra nước ngoài, sự bắt đầu ra đi đó được thuật lại  như sau: Ngày tháng Giêng năm 1908, tôi với người bạn ra chơi Bắc Kỳ; định ở lại Nam Định mà học. Đến tháng Ba nhân việc ngăn trở, phải đáp tầu về Đà Nẵng (Tourane). Khi về đến nơi không tiện lên bờ, bèn chạy thẳng vào Quy Nhơn. Đến đây đổ bộ đi xuyên sơn vào Phú Yên, lẩn lút trong rừng tám, chín tháng. Ngày 24 tháng Chạp năm ấy, mới đáp mành vào Nam Kỳ. Từ cửa bể Xuân Đài mà ra khơi. Đến ngày 7 tháng Giêng năm 1909 tới Mỹ Tho, lần vào Bến Tre, đến làng Tân Hương tìm chỗ ngồi bảo trẻ.” Sau một năm lẩn lút ở Nam Kỳ, đêm mồng 3 tháng tư năm 1909 trốn xuống tàu đi qua Xiêm, ở Xiêm mười ngày nhận thấy không phải là nơi cầu học bèn đáp tàu đi Hương Cảng. Ở Hương Cảng tác giả vào trường học chữ Anh được vài tháng thì hết tiền, bèn đáp tàu định đi Thượng Hải, trên tàu được một người Hoa khuyên đi Nhật để học. Thế là cũng chuyến tàu đó NBT đi qua Nhật. Nhưng lại nhằm lúc Nhật trục xuất du học sinh Việt Nam nên chẳng học hành gì được, chừng một tháng lại quay trở về Trung Quốc. Tại Trung Quốc được những người quan chức quân nhân (còn thuộc nhà Mãn Thanh) giúp cho vào học trường quân sự Quảng Tây từ tháng 9 năm 1910 đến tháng 8 năm 1911( cũng từ nhân duyên bài ca Hồ Trường). Khi ra trường thì nổ ra cách mạng Tân Hợi, Nguyễn bá Trác cùng những người đồng học tìm nơi có đánh nhau để thi thố nghề quân sự, nhưng đi đến đâu thì lửa tắc khói tàn đến đấy !”Bạn bảy, tám người học trò Quảng Tây cùng đi với tôi, nói bỡn nhau rằng:Chúng ta là phúc tinh, đi đến đâu thiên hạ thái bình đến đấy”. Lộ trình trên đất Trung Hoa được mô tả:”bao nhiêu thương phụ to, tỉnh thành lớn: như Ba Thục miền Tây, U Yên đất Bắc, Quế Việt cõi Nam, đều là chỗ mình có để ít nhiều vết xe dấu ngựa.”Phần giá trị nhất của tác phẩm là viết về phong cảnh, lịch sử, phong tục, tập quán, tổ chức nhà nước, binh bị, giáo dục, xã hội…của các nơi mà tác giả đã đặt chân đến, rồi so sánh để nhận định tình trạng nghèo khổ, lạc hậu trong nước.
       Nói về sự tán thưởng của người đương thời đối với Hạn mạn du ký, cụ Phạm thế Ngữ viết như sau:”Nhất là đối với Nho gia ta khi ấy từng ôm cái miệng Đông du nếu không thì trí não cũng đầy ghi nhớ văn chương về danh nhân danh thắng Trung Hoa, đọc Hạn mạn du ký của Nguyễn bá Trác thực là thú vị. Cả nữ giới cũng hoan nghênh lắm. Bà Tương Phố từng kể hay gối Nam Phong ở đầu giường để đọc du ký của ông Quỳnh ông Trác mà mộng du đất Pháp đất Tầu”. Chính sức hấp dẫn của HMDK mà bài Hồ Trường nói đến trong đó được đón nhận nhiệt tình rồi theo năm tháng mà trở nên bất tử.
       Xuất xứ bài Hồ trường : Chúng tôi xin trích nguyên văn trong Hạn Mạn Du Ký bản chữ Việt để tránh sự suy diễn xa dần manh mối  :”Một hôm trời đã chiều hôm, hiu hiu gió bể, chúng tôi làm việc vừa xong, rủ nhau đi chơi phố. Nguyên quân cao hứng muốn vào tửu lâu, tôi cũng hợp ý, bèn thuê xe đến ngay Đào Đào quán trong tô giới. Nguyên quân cả năm không hay uống rượu đã uống thì say, đã say thì hay hát. Hát không hiểu khúc, song tiếng trong mà cao; cứ nghêu ngao mấy câu cổ phong, tự người ngoại quốc nghe đã lấy làm kiêu điệu lắm; cho nên ngày ở Quế Lâm, thi tốt nghiệp rồi, Nguyên quân say rượu tay gõ miệng hát, anh em đồng học đều khen là danh ca. Chiều hôm ấy, rượu ngà ngà, Nguyên quân cũng đứng dậy mà hát. Cách phòng có một người khác, tên là Lưu mỗ, là người Trực Lệ, hiện làm quan võ coi lính ở Quảng Tây, nghe Nguyên quân hát, bèn vào phòng, chào nói tên họ, rồi hỏi Nguyên quân:”Tôi nhớ năm xưa có gặp Quý hữu một lần ở tại Đông Kinh nước Nhật”. Nguyên quân nói:”Lâu ngày không nhớ cho rõ”. Khách lại hỏi:”Vừa nghe Quý hữu hát ấy là điệu gì ?”-Nguyên quân nói:”Ấy là một điệu đặc biệt ở phương Nam”. Khách nói:”Nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái, Nam phương có điệu hát đến như thế ru?”- Nói rồi liền gọi thằng hầu lấy bút giấy, xin Nguyên quân viết bài hát cho mà xem. Nguyên quân cầm bút viết ngay.
   Bài hát dịch ra như sau này :( hết trích –ĐcT-)
   Khoan nói đến chuyện bản văn bài hát, qua đoạn trích trên có thể xác định :
a/- Chính xác đây là một bài ca Hán văn, khi Nguyễn bá Trác dịch ra Việt văn mới là bài hát.
b/- Bài ca nầy không có tựa đề,ngay cả bản Hán văn và bảnViệt văn.
c/-Tựa  Hồ Trường là do người đời sau đặt ra.
d/-Bài ca Hán văn không xác định ai là tác giả. Chúng ta lưu ý mạch văn:”Ấy là một điệu đặc biệt ở phương Nam”, theo cách phân tích ngày nay, một bài ca có hai phần điệu và từ, thì ở đây cái mà chúng ta muốn tìm hiểu là từ chớ không phải điệu, theo mạch văn trên : điệu là điệu phương Nam, nhưng từ là của ai? Tác giả khuyết danh hay chính “ Nguyên quân “ cảm thán nói lên cái tâm sự, hoàn cảnh của mình theo làn điệu phương Nam nào đó :”…Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương; Hồi đầu Nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương; Lập công bất thành,học bất tựu…(Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương; Trời Nam nghìn dậm thẳm, mây nước một màu sương; Học không thành, công chẳng lập….” ) ?
đ/-Bản Việt văn nầy có được dịch sát theo nguyên bản Hán văn không ? Để giải đáp câu hỏi nầy, chúng tôi đã tham khảo được bản chụp chữ Hán đăng trên Nam Phong năm 1921, bản phiên âm Việt ngữ và bản dịch Việt văn sát theo nguyên tác. Từ đó để xác định rằng :”Bài hát Hồ Trường mà chúng ta hay ngâm nga ngày nay là bản dịch thoát có sáng tạo của Nguyễn bá Trác từ một bài ca khuyết danh tác giả”  và người Việt Nam yêu quý bài hát là chính bản Việt văn nầy, do đó tất cả vấn đề thuộc về nguyên bản Hán văn xin hãy dành cho văn học sử, còn nói đến“ Hồ Trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu …” thiết tưởng không cần bàn đến bản Hán văn nữa vì công phu và chuyên sâu, chúng tôi sẽ bàn vào một biên khảo khác.
     Tại sao gọi là có sáng tạo ?, bởi trong bản Hán văn không có hai chữ Hồ Trường mà là dư thương”, chúng tôi giải thích đơn giản như sau: chữ THƯƠNG là cái chén đã rót đầy rượu, cũng đọc là TRÀNG hay TRƯỜNG tùy thổ âm, thuộc bộ GIÁC; Chữ DƯ thuộc bộ QUYẾT, có nghĩa là tôi, ta- ngôi thứ nhất- chúng tôi theo Thiều Chửu, là cuốn tự điển phổ thông trong nước, bạn nào có điều kiện thì tra tự điển Từ Hải của TQ để rỏ thêm .Từ hai chữ DƯ THƯƠNG sát nghĩa là “chén rượu đầy của ta” NBT dịch thoát ra HỒ TRƯỜNG (cũng là chữ Hán !), có người thắc mắc HỒ là cái bầu, TRƯỜNG là cái chén rượu, vậy thì hồ rót vô trường hay trường rót vô hồ? Bởi vậy các bậc nho học mới cho rằng đó là sự sáng tạo RẤT THÚ VỊ, ngoài ra Nguyễn bá Trác còn dịch thoát nhiều từ khác có lẽ để phù hợp với ngôn ngữ Việt.
    Chuyện sẽ không có gì để bàn nếu như không có nhiều người Việt Nam quá yêu quý cái chất hào sảng của bài thơ- nói đúng là bài hát - nầy!
     Thí dụ  :“(Đình tiền tạc dạ nhất chi mai) => Đêm qua sân trước một cành mai” vẫn là của Mãn Giác thiền sư đó thôi! Nhưng:”Ngàn dâu xanh ngát một màu-Tình chàng ý thiếp ai sầu hơn ai” thì lại của bà Đoàn thị Điểm chớ có ai nói là của Đặng trần Côn?
      Như vậy bất kể bài ca tiếng Tàu của ai, nay khẳng định Nguyễn bá Trác là tác giả bài Hồ Trường được chưa? Để qua một bên phần nhân thân còn nhiều điều chưa sáng về khía cạnh chính trị thời thế của ông mà hình như ít nhiều làm thương tổn lòng yêu bài hát, cá nhân chúng tôi sẽ cho là thỏa đáng, chắc chắn sẽ không có vấn đề tranh dành bản quyền, nhưng cái chính là chúng tôi mong cho bài hát bất tử nầy viên thành một số phận. Nghĩa là chúng tôi khẳng định quan điểm của mình : Bài hát Hồ Trường bằng Việt ngữ chính danh tác giả là Nguyễn bá Trác.
e/- Về nhân vật gọi là Nguyên quân, người được coi là đầu mối cho bài ca tiền thân của Hồ Trường. Căn cứ vào hành trạng viết trong HMDK, nhiều năm qua chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu tên thật của nhân vật nầy nhưng không kết quả. Xin nói thêm rằng nhiều tên người trong HMDK đã được tác giả mã hóa thí dụ như Lưu mỗ, Trần mỗ, Mỗ quân…Vả lại họ người Việt không hề nghe có họ Nguyên. Xem NGỤC TRUNG THƯ của Phan bội Châu thì 4 người thanh niên đông du qua Nhật đầu tiên vào năm 1906 là: Lương ngọc Quyến, Lương nghị Khanh, Trần hữu Công (tức là Nguyễn thức Canh- sau theo Cường Để-) và Nguyễn Điển. Ba người đầu hành trạng có tư liệu lịch sử rõ ràng, chỉ còn Nguyễn Điển chúng tôi chưa có tư liệu ? Tại chương 11 của HMDK có đoạn nói Nguyên quân học ở Nhật được 3 năm. Năm 1909 Nhật trục xuất du học sinh Việt Nam, như vậy Nguyên quân qua Nhật năm 1906 có chăng trong số 4 người đầu tiên nầy ? Hành trạng cuối cùng được nói đến là:”Năm ấy (1911) nghe tin Dân đảng muốn xuẩn động, nhà trường thi gấp kỳ tốt nghiệp tự sơ tuần tháng 8, tôi được văn bằng Bộ binh về hạng ưu đẳng. Nguyên quân cũng trúng tuyển bổ ra làm Quan quân Sở binh bị (còn thuộc quân đội Mãn Thanh. Thời kỳ nầy người Việt qua Tàu học quân sự khá nhiều, sau khi tốt nghiệp các vị ấy đa số tiếp tục phục vụ cho quân đội Mãn Thanh, sau cách mạng Tân Hợi, bị phân hóa mạnh, có người theo Quốc dân đảng, người theo đảng cộng sản Trung Hoa, người thì sau một thời gian trở về nước theo Việt Minh, theo đảng phái khác v.v. )
f/- Về lý lịch ông Nguyễn bá Trác chúng tôi sẽ viết ở một biên khảo khác.(vì rất dài và nhiều uẩn khúc )
g/- Phần bản văn : Xin lưu ý lâu nay bài Hồ Trường lưu hành hay mắc những chữ sai sau đây : Đúng là… xé gan bẻ cột (xin xem chú thích của Lãng Nhân trong CHƠI CHỮ ); Không phải là… thi gan bẻ cật ; …trời đất mang mang ; Không phải là…trời đấtman man hay miên man ;…trăm năm thân thế; Không phải là …trăm năm thân thể; nước bể Đông chảy xiết, sinh cuồng lan; Không phải …sinh cuồng loạn hoặc cuồng lạn;vì vụt, đá chạy cát dương; Không phải là …vi vút, đá chạy cát vương; Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi ; Không phải là ..Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, ( tuy vậy, theo thiển ý thì câu cải biên sai nguyên tác: “vỗ gươm mà hát nghiêng bầu mà hỏi “ lại có hào khí hơn ! ).
NGUYÊN VĂN IN TRONG HẠN MẠN DU KÝ
Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường
Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương
  Trời nam nghìn dậm thẳm; mây nước một màu sương.
 Học không thành, công chẳng lập,
Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc; trăm năm thân thế bóng tà dương.
 Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi,
Trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
 Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?
 Rót về đông phương, nước bể Đông chảy xiết, sinh cuồng lan;
 Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan;
 Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;
 Rót về nam phương, trời nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.
 Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta ta hay;
 Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ,
 hà tất cùng sầu đối cỏ cây.”
       Vĩ thanh: Thỉnh thoảng chúng tôi về miệt vườn bạn già quây quần bên chun rượu có bạn ngà say cảm khái múa đũa gõ mâm ngâm nga Hồ Trường mà cải biên nhiều quá. Khi viết bài viết nầy trong lòng chúng tôi chỉ nhắm đến các bạn lớn tuổi, vùng sâu vùng xa, hoặc thiếu điều kiện tiếp cận mạng truyền thông hiện đại. Còn việc văn học sử là việc lớn nhưng cũng rất mong cần có sự chỉnh chu chính thống cho một áng văn chương bất tử lại có một số phận kỳ lạ, ra đời gần trăm năm mà sức sống không suy giảm, xướng lên có người nổi gai ốc, mũi cay nồng, mắt rưng rưng, mà vẫn chưa xác định tác giả, số phận vẫn  lang thang hoài, cải biên hoài trong cõi trần ai !
 
                                                Như Không Đặng Công Tạo
Tư liệu tham khảo:
- HẠN MẠN DU KÝ -Tiêu Đẩu Nguyễn bá Trác, Đông Kinh Ấn Quán, phố Hàng Bông Hà Nội 1921.
 -NGỤC TRUNG THƯ -Phan bội Châu , Tân Việt, Sài Gòn, 1950.
 -VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ GIẢN ƯỚC TÂN BIÊN- Phạm thế Ngữ tập III, Đồng Tháp tái bản 1998. * Internet *
 
 
PHẦN PHỤ LỤC
( Bản văn phiên âm từ nguyên tác bằng chữ Hán: )
Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường
Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương
Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề,
Thiên vân nhất sắc đồ thương thương
Lập công bất thành, học bất tựu . Thiếu tráng hữu cơ thời hề
Tọa thị bách niên thân thế khu âm dương
Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế
Mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỹ hề
Thí lai đối chước hữu dư thương
Dư thương trịch hướng đông minh thủy
Đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan
Dư thương trịch hướng tây sơn vũ
Tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương
Dư thương trịch hướng bắc phong khứ
Bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương
Dư thương trịch hướng nam thiên vụ
Vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy
Thiên địa vũ trụ hồn tương vong.   Dư bất túy hĩ, dư hành dư chí
Nam nhi tự cổ sự tang bồng
Hà tất cùng sầu tất phần tử
 
Bạn muốn gửi bài bình luận về phần tin này. Vui lòng nhấn vào đây -->>>> Viết bình luận


Anh Như Không, Có nghe anh HHưng nói vài lần về bài "Hồ Trường", em thấy tựa bài có vẻ là lạ, định tìm trên Internet, nhưng rồi quên tuốt luốt.  Nay nhờ đọc bài của anh, em biết thêm được một bài thơ tuyệt tác.  Cám ơn anh!  Đọc xong còn thấy bùi ngùi cho những số phận long đong, công không thành, danh không toại, tha phương kiếm sống...em càng buồn hơn vì mình không được phép "hồ trường" như quý ông anh.  Em đọc qua tiểu sử của ông Nguyễn Bá Trác trên mạng, có nói sơ qua về cái chết của ông, quả thật oan nghiệt.  Mong được đọc bài của anh về cuộc đời của Nguyễn Bá Trác trong ngày gần đây. PhươngNga

NHƯ KHÔNG thân mến! Tôi rất thích 2 câu: "Trời đất mang mang, ai người tri kỷ / Lại đây cùng ta cạn một hồ trường" . Có điều, tôi chưa hiểu rõ là " hồ trường" có phải là cái bầu rượu không ? Xin anh vui lòng giúp tôi . Thân ái !

 

Chào Tấn Giỏi . Hồ là cái bầu ( hồ lô là cái bầu để đựng thuốc) . Trường hay tràng hay thương ( tùy vùng miền ) có nghiã là cái chén đã rót rượu ( xem tự điển Thiều Chữu mục từ THƯƠNG ). Tuy nhiên tại mục[đ/- ] trong bài viết, mình có nói HỒ TRƯỜNG là sự sáng tạo riêng của ông Nguyễn bá Trác, có xuất xứ từ chữ DƯ THƯƠNG , bản thân nó rất khó dịch nghĩa là gì. Trình độ chữ Hán Việt của mình lôm côm lắm, chủ yếu tra tự điển, mà nho học Đông Phương thì cao thâm vô cùng. Nhưng càng cao thâm, càng kích thích tư duy , như vậy mới thú vị khi  thưởng thức văn học , triết học Đông Phương hén Tấn Giỏi . Chúc mạnh khỏe.

Xin đính chính :  Âm Hán Việt đọc là Hồ theo Thiều Chữu có 16 tự dạng trong đó có 4 tự dạng có nguồn gốc từ một loại trái mà khi già người ta lấy vỏ để đựng vật mang theo người, cũng có thể để đựng đan dược nhưng  thường là đựng chất lỏng, nước hoặc rượu. Trái đó ta gọi là trái bầu và hồ lô cũng là một giống trái bầu. Để giải thích cho thật sáng rỏ thì rất dài , xin nói tàm tạm như sau : Khi Hán đọc là hồ thì Nôm ta đọc là bầu để chỉ đồ đựng chất lỏng ( thí dụ: ở bầu thì tròn, ở ống thì dài) và ngầm hiểu nguồn gốc xa xưa cũng chỉ từ trái bầu . Thành thật xin lỗi.

Các tin cũ hơn
Các tin mới hơn